Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình phát triển đất nước
Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, khoa học và công nghệ luôn giữ vai trò nền tảng, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, công cụ và năng lực sản xuất mới, thì chuyển đổi số ngày nay đang mở ra không gian phát triển mới, đổi mới phương thức quản trị và tổ chức đời sống xã hội trên nền tảng công nghệ hiện đại.
![]() |
| Ảnh minh họa. Nguồn Internet. |
Ngay từ những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, trong điều kiện vô cùng gian khổ, đội ngũ trí thức cách mạng đã phát huy tinh thần tự lực, sáng tạo, nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật, chế tạo vũ khí, phương tiện thông tin liên lạc và trang thiết bị phục vụ kháng chiến. Những sáng chế trong lĩnh vực quân sự, y tế, hậu cần không chỉ đóng góp trực tiếp vào thắng lợi trên chiến trường, mà còn đặt nền móng cho tư duy coi trọng khoa học và công nghệ như một nguồn lực đặc biệt của cách mạng Việt Nam.
Từ công cuộc Đổi mới năm 1986, Đảng ta xác định khoa học và công nghệ là “quốc sách hàng đầu”, là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hàng loạt công trình và chương trình mang tầm chiến lược quốc gia như đường dây 500 kV Bắc - Nam, các nhà máy thủy điện lớn, chương trình dầu khí, vệ tinh viễn thông… đã thể hiện rõ vai trò của khoa học và công nghệ trong nâng cao nội lực, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh thông tin và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Bước sang đầu thế kỷ XXI, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số nổi lên như một động lực phát triển mới, bổ trợ và mở rộng vai trò truyền thống của khoa học và công nghệ. Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ số, mà là quá trình đổi mới toàn diện phương thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ công, lấy dữ liệu và công nghệ số làm nền tảng.
Từ khi triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia năm 2020, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên cả ba trụ cột: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Hạ tầng viễn thông, Internet và mạng di động được mở rộng; các nền tảng số “Make in Vietnam” phát triển mạnh mẽ trong thương mại điện tử, tài chính số, giáo dục, y tế và dịch vụ công. Kinh tế số tăng trưởng nhanh, đóng góp ngày càng lớn vào GDP, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế.
Chuyển đổi số cũng đang làm thay đổi sâu sắc cách thức Nhà nước phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp. Dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu số, hồ sơ điện tử, y tế và giáo dục số từng bước đi vào đời sống, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng tính minh bạch và cải thiện chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 nằm trong nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về chính phủ số; kinh tế số đóng góp ít nhất 30% GDP; toàn dân được phổ cập kỹ năng số; mỗi doanh nghiệp có chiến lược chuyển đổi số; mỗi ngành, lĩnh vực có nền tảng số chuyên biệt.
Hiện thực hóa Nghị quyết 57 - NQ/TW: từ nền tảng đến hành động đột phá
Những thành tựu đạt được trong khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thời gian qua đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải có những quyết sách mới, mang tính đột phá, để khai thác đầy đủ hơn các động lực phát triển trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt.
Trước yêu cầu đó, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định rõ: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu và tạo nền tảng đưa đất nước phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu Đông Nam Á về năng lực cạnh tranh số và chính phủ điện tử; kinh tế số đóng góp tối thiểu 30% GDP; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt chiếm khoảng 80%; trên 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh không gian mạng. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới, kinh tế số chiếm tối thiểu 50% GDP và nằm trong nhóm 30 quốc gia dẫn đầu toàn cầu về đổi mới sáng tạo.
Sau một năm triển khai, việc thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị có chuyển biến rõ nét; thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; nguồn lực tài chính cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ưu tiên bố trí; chuyển đổi số trong hệ thống chính trị được triển khai đồng bộ hơn; mô hình hợp tác giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp dần hình thành; các khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, đô thị thông minh và các công nghệ chiến lược được xác định là hướng đi trọng tâm.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số hạn chế, điểm nghẽn cần sớm khắc phục, như: một số cơ chế, chính sách chậm được hướng dẫn, triển khai; hạ tầng và năng lực số ở cơ sở còn yếu; dữ liệu quốc gia và chuyên ngành chưa được chuẩn hóa, khai thác hiệu quả; tiến độ phân bổ và giải ngân nguồn lực chưa đồng đều; nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược còn thiếu; yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng đặt ra cấp bách.
Bước sang năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh sang giai đoạn tăng tốc. Phương châm của năm 2026 được xác định là “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”. Các bộ, ngành, địa phương cần chuyển từ tư duy “làm theo kế hoạch” sang “làm theo mục tiêu và sản phẩm”; từ báo cáo tiến độ sang đánh giá hiệu quả; từ triển khai dàn trải sang tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi.
Kết quả thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW phải gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, trở thành tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thi đua, khen thưởng và xem xét trách nhiệm cán bộ. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng dùng chung, hệ thống cơ sở dữ liệu; coi dữ liệu là tài nguyên chiến lược; phát triển các công nghệ chiến lược và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn.
Một năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW cho thấy rõ: Đây không chỉ là nghị quyết về khoa học và công nghệ, mà là nghị quyết về mô hình phát triển và năng lực quản trị quốc gia. Với nền tảng đã được tạo dựng và quyết tâm hành động ngay từ năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ tiếp tục là động lực trung tâm, góp phần đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển bứt phá, nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
Thu Uyên


Bình luận