Cách các quốc gia và thể chế xử lý mâu thuẫn giữa tiến bộ công nghệ và công bằng xã hội sẽ quyết định việc công nghệ trở thành động lực bao trùm hay là tác nhân tạo ra loại trừ mới.
![]() |
| Công nghệ cần phải hỗ trợ nhóm người yếu thế trong sử dụng dịch vụ công trực tuyến (ảnh minh họa do AI tạo ra) |
Khi nhóm yếu thế bị công nghệ bỏ lại phía sau
Khi làn sóng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo lan rộng vào mọi ngách của đời sống, cơ hội phát triển mở ra đáng kể cho các quốc gia, doanh nghiệp và cá nhân. Song cũng chính trong tiến trình hiện đại đó, nhiều nhóm xã hội vốn đã yếu thế lại đứng trước nguy cơ bị tổn thương kép: vừa chịu thiệt thòi trong đời sống kinh tế – xã hội, vừa đối diện với các rủi ro mới do công nghệ gây ra. Bản chất của vấn đề không nằm ở sự hiện diện của công nghệ, mà ở khoảng trống thể chế, năng lực và thiết kế xã hội chưa theo kịp sự thay đổi quá nhanh của các hệ thống số.
Nhận định này được GS.TS Vũ Công Giao (Trường Đại học Luật Hà Nội) nhấn mạnh khi cho rằng sự phát triển công nghệ “vượt xa khả năng phản ứng của pháp luật và xã hội”, tạo ra các nhóm dễ bị tổn thương mới và những hình thức xâm phạm quyền con người chưa từng xuất hiện trong thời tiền công nghệ. Nếu ở thế giới truyền thống, yếu thế đến từ tuổi tác, giới tính, khuyết tật hay nghèo đói, thì trong thế giới số, yếu thế còn đến từ năng lực số thấp, phụ thuộc vào thuật toán, không được tiếp cận dữ liệu, thiếu hạ tầng hay bị loại trừ khỏi các dịch vụ thiết yếu nay chuyển lên môi trường trực tuyến.
Công nghệ số vì thế tạo ra ba tầng rủi ro lớn đối với nhóm yếu thế. Tầng đầu tiên là rủi ro đối với các quyền cơ bản và sự an toàn của cá nhân. Công nghệ số và AI đem lại các hình thức xâm phạm quyền riêng tư, phân biệt đối xử và bạo lực mạng mà người dùng khó nhận biết và khó khiếu kiện, đặc biệt thông qua cơ chế ra quyết định tự động. Nghiên cứu của GS.TS Vũ Công Giao cho thấy tình trạng quấy rối, bắt nạt, deepfake khiêu dâm, giám sát dữ liệu và thu thập thông tin cá nhân thiếu minh bạch đặt trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và các nhóm thiểu số vào vị thế rủi ro hơn. Những hành vi này càng khó xử lý do thuật toán không có khuôn mặt và trách nhiệm pháp lý không được xác định rõ ràng trong chuỗi vận hành.
![]() |
| GS.TS Vũ Công Giao |
Tầng rủi ro thứ hai nằm ở thị trường lao động, nơi luồng công việc, chuẩn năng lực và cơ chế quan hệ lao động bị tái cấu trúc bởi kinh tế nền tảng và AI. Ông Nguyễn Hải Đạt, Cán bộ Chương trình An sinh Xã hội, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Việt Nam, đã chỉ ra rằng kinh tế nền tảng đang tạo ra việc làm mới nhưng cũng kéo theo hình thức bóc lột kiểu mới: công nhân bị quản lý bằng thuật toán, không có hợp đồng, không có an sinh xã hội và bị đánh giá tự động theo tiêu chí mà họ không được biết.
Ông Đạt đồng thời cảnh báo rằng AI tạo sinh không làm biến mất toàn bộ việc làm, nhưng làm biến đổi bản chất công việc và khiến nhiều vị trí hành chính - văn phòng (nơi phụ nữ chiếm tỷ lệ lớn) có mức độ phơi nhiễm cao, đồng thời thu hẹp vị trí đầu vào cho sinh viên mới tốt nghiệp, từ đó tạo nguy cơ gia tăng bất bình đẳng giới và bất bình đẳng thế hệ trong chuyển đổi số.
![]() |
| Ông Nguyễn Hải Đạt |
Tầng rủi ro thứ ba liên quan đến khả năng tiếp cận phúc lợi và dịch vụ công. Trong lĩnh vực này, Bà Đỗ Thanh Huyền, Chuyên gia Phân tích Chính sách công, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, nhấn mạnh rằng việc chuyển dịch dịch vụ công lên môi trường số tuy tạo thuận tiện cho xã hội nói chung, nhưng lại khiến nhiều người dân ở vùng sâu, vùng xa, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số hay phụ nữ gặp thêm rào cản mới thay vì được gỡ bỏ.
Những rào cản này không chỉ mang tính kỹ thuật như thiếu thiết bị hay thiếu mạng, mà còn mang tính xã hội, ngôn ngữ và văn hóa. Bà Huyền dẫn chứng khi UNDP triển khai mô hình dịch vụ công lưu động tại Hà Giang (nay là Tuyên Quang) và Quảng Trị, cùng với việc hình thành các tổ công nghệ số cấp thôn, người dân mới thực sự có cơ hội bước vào không gian dịch vụ công trực tuyến thay vì đứng ở ngưỡng cửa và bị loại trừ bởi thiết kế thiếu bao trùm.
Từ các phân tích trên có thể nhận thấy vấn đề cốt lõi không nằm ở việc công nghệ quá mạnh, mà ở chỗ công nghệ được triển khai mà không lấy người yếu thế làm trung tâm. Nhiều hệ thống công được thiết kế theo logic “một kiểu cho tất cả”, mặc nhiên giả định người dân có khả năng tự tiếp cận. Điều này khiến Nhà nước vô tình chuyển chi phí giao dịch sang người dân, đặc biệt là người có điều kiện hạn chế, và biến công nghệ thành rào cản mới đối với quyền.
Giải pháp để người yếu thế không bị bỏ lại
Muốn công nghệ trở thành động lực của bình đẳng thay vì trở thành tác nhân của loại trừ xã hội, chuyển đổi số cần được tái định nghĩa không chỉ như một tiến trình kỹ thuật, mà như một tiến trình chính trị - xã hội liên quan đến quyền, thiết chế và năng lực. Các chuyên gia từ UNDP, ILO và Đại học Luật Hà Nội cho rằng chính sách bảo vệ nhóm yếu thế trong kỷ nguyên số cần được triển khai trên ba trục lớn: quyền, thể chế và an sinh. Điểm quan trọng là nếu thiếu một trong ba trục này, chuyển đổi số sẽ trở thành quá trình tạo ra “công nghệ nhanh nhưng công bằng chậm,” và nhóm yếu thế sẽ tiếp tục đứng ngoài cuộc chơi.
Ở trục quyền, GS.TS Vũ Công Giao chỉ ra rằng phần lớn các “quyền mới” trong không gian số thực ra không hoàn toàn mới, mà là sự mở rộng nội hàm của các quyền đã được thừa nhận như quyền riêng tư, quyền dữ liệu, quyền bình đẳng và quyền không bị phân biệt đối xử. Vấn đề phát sinh khi công nghệ tạo ra những cách thức xâm phạm quyền mà pháp luật chưa dự liệu kịp: từ thiên lệch thuật toán, giám sát dữ liệu, thao túng thông tin cho đến phân loại và đánh giá tự động.
Giải pháp theo ông Giao không nằm ở việc ban hành thêm thật nhiều đạo luật mới, mà ở việc liên tục cập nhật luật hiện hành, tích hợp các quyền kỹ thuật số vào luật chuyên ngành và tăng cường năng lực thực thi, bởi luật chỉ có giá trị khi đi kèm khả năng bảo vệ chủ thể trên thực tế.
Ở trục thể chế, bà Đỗ Thanh Huyền nhấn mạnh rằng đưa công nghệ vào khu vực công là điều dễ, nhưng đưa người dân vào sử dụng công nghệ mới là phần khó. Các nghiên cứu của UNDP cho thấy rằng ngay cả khi hạ tầng số đã được triển khai, nhiều nhóm vẫn không thể tiếp cận dịch vụ công trực tuyến vì rào cản về ngôn ngữ, kỹ năng, thiết bị hoặc niềm tin số. Chỉ khi đưa dịch vụ công xuống tận thôn bản thông qua mô hình dịch vụ công lưu động, kết hợp với các tổ công nghệ số cấp xã và cấp thôn, người dân mới thực sự bước vào không gian số thay vì đứng ngoài nó. Bà cũng nhấn mạnh yêu cầu dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” và năng lực số của cán bộ công quyền như hai điều kiện tiên quyết để hệ thống hành chính không trở thành điểm nghẽn trong tiến trình chuyển đổi số.
![]() |
| Bà Đỗ Thanh Huyền, chuyên gia UNDP |
Ở trục an sinh và thị trường lao động, ông Nguyễn Hải Đạt (ILO Việt Nam) mô tả chuyển đổi số như quá trình tái cấu trúc sâu sắc quan hệ lao động, chứ không chỉ là quá trình tự động hóa công việc. Các mô hình nền tảng đã biến một bộ phận lớn lao động sang hình thức phi hợp đồng, thiếu bảo vệ, được giám sát bởi thuật toán và có mức độ thương lượng gần bằng không. AI tạo sinh tiếp tục tạo áp lực lên nhóm lao động trẻ và phụ nữ, đặc biệt trong các ngành hành chính - văn phòng. Để người yếu thế không bị loại khỏi tương lai việc làm, ILO đề xuất mở rộng tiêu chuẩn lao động sang các mô hình kinh tế số, bảo đảm minh bạch thuật toán, số hóa hệ thống đào tạo nghề, tăng năng lực kỹ năng số và thúc đẩy đối thoại xã hội đa bên. ILO hiện đang thúc đẩy một công ước quốc tế về lao động nền tảng dự kiến được thông qua vào tháng 06/2026 để lấp đầy khoảng trống bảo vệ trong một thị trường lao động đang dịch chuyển quá nhanh.
Các chuyên gia cho rằng cần chuyển dịch từ mô hình bảo trợ sang mô hình trao quyền. Các nhóm yếu thế không muốn được bảo vệ theo nghĩa thụ động, mà muốn được tham gia ngay từ đầu vào quá trình thiết kế công nghệ, dịch vụ công và chính sách. Ông Nguyễn Tuấn Lương, nguyên Trưởng phòng Thí nghiệm Đổi mới sáng tạo của UNDP, thậm chí đưa ra nguyên tắc: “Nếu người khiếm thị có thể dùng được sản phẩm, thì đa số người dân sẽ dùng được”, hàm ý rằng chuẩn bao trùm tốt nhất chính là chuẩn được thiết kế theo nhu cầu của nhóm khó tiếp cận nhất chứ không phải của nhóm đông nhất.
Người yếu thế là "đồng thiết kế"
Từ các phân tích trên, có thể thấy rằng công nghệ chỉ thật sự bao trùm khi người yếu thế được xem là đồng thiết kế, chứ không phải “người dùng cuối.” Khi đó, quyền sẽ định hướng công nghệ, thể chế sẽ điều hòa công nghệ, và an sinh sẽ giúp con người tận dụng công nghệ thay vì bị công nghệ bỏ lại. Còn trong trường hợp ngược lại, khi công nghệ chạy quá nhanh, pháp luật đi quá chậm và xã hội không kịp điều chỉnh, bất bình đẳng sẽ không những không giảm mà còn được thuật toán hóa, tiêu chuẩn hóa và tái sản xuất ở quy mô lớn hơn.
![]() |
| Người già gặp khó khăn khi sử dụng thiết bị công nghệ (ảnh minh họa do AI tạo ra) |
Tóm lại, cuộc đua công nghệ vốn không chờ ai, nhưng công bằng xã hội thì không thể để ai đứng lại phía sau. Câu hỏi không còn là “công nghệ sẽ tiến xa đến đâu”, mà là “chúng ta sẽ mang theo được bao nhiêu người trong hành trình ấy”.
Nếu chuyển đổi số được triển khai theo cách cũ, nơi công nghệ quyết định còn con người điều chỉnh theo, chúng ta sẽ có một tương lai nơi bất bình đẳng được mã hóa bằng thuật toán, quyền được giao nộp cho nền tảng và cơ hội chỉ mở ra cho nhóm đã có sẵn lợi thế.
Nhưng nếu chuyển đổi số được triển khai theo cách mới, nơi công nghệ phục vụ nhu cầu của mọi công dân, tương lai sẽ là nơi dịch vụ công đến tận thôn bản, việc làm nền tảng đi kèm quyền lao động, còn pháp luật kịp thời bảo vệ chủ thể trước những ẩn số của AI.
Công nghệ có thể mở đường, nhưng quyền con người mới là thứ giữ cho con đường đó không đổ dốc về phía bất bình đẳng. Bởi trong một xã hội văn minh, phát triển không bao giờ được đo bằng việc “đi nhanh đến đâu”, mà bằng việc “đi cùng nhau đến mức nào”.
Hội thảo “Tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro của công nghệ số đối với các nhóm dân cư trong xã hội” do Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) phối hợp với Viện Quyền con người – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 12/1/2026 đã thu hút sự tham dự của hơn 100 đại diện đến từ các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức quốc tế, chuyên gia, nhà nghiên cứu và các tổ chức xã hội. Hội thảo đã đưa ra những giải pháp, đóng góp giá trị nhằm cải thiện môi trường số ở Việt Nam, đặc biệt đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, đồng thời kêu gọi các nghiên cứu tiếp tục hướng đến xây dựng các giải pháp, thể chế, chính sách để phát triển và bảo vệ quyền con người trong kỷ nguyên số.
Đăng Khoa





