Phát triển công nghệ số nhanh nhưng phải an toàn, bao trùm và có trách nhiệm
Nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật và cơ chế quản lý phù hợp với thực tiễn phát triển nhanh, liên ngành của công nghệ số, sáng 18/12, Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) chủ trì, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) tổ chức Hội thảo “Hoàn thiện chính sách và khuôn khổ pháp lý cho phát triển công nghệ số ở Việt Nam”. Hội thảo là diễn đàn đối thoại giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu phát triển công nghệ số bao trùm và trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm.
![]() |
| Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch, Hội Truyền thông số Việt Nam phát biểu tại lễ khai mạc sáng ngày 18/12. |
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) cho biết, báo cáo nền kinh tế số Đông Nam Á cho thấy, quy mô nền kinh tế số Việt Nam đã đạt khoảng 40 tỷ USD, đứng thứ ba trong khu vực ASEAN, với tốc độ tăng trưởng 17% so với năm 2024, tiếp tục là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế số nhanh nhất khu vực. Tuy nhiên, song hành với những con số ấn tượng đó là hàng loạt vấn đề mới nảy sinh liên quan đến đạo đức, trách nhiệm, quyền con người và tính bao trùm trong phát triển công nghệ.
“Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để mọi người dân, kể cả các nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội, đều có thể hòa nhập và được hưởng lợi từ sự phát triển của công nghệ số. Công nghệ không chỉ để tăng trưởng kinh tế, mà còn phải phục vụ con người, bảo đảm an toàn, quyền riêng tư và nhân phẩm”, ông Nguyễn Minh Hồng nhấn mạnh.
Trong bối cảnh đó, VDCA cam kết tiếp tục tham gia và thúc đẩy các sáng kiến xây dựng hệ sinh thái số năng động, khuyến khích đổi mới sáng tạo nhưng đồng thời bảo đảm phát triển công nghệ một cách an toàn và có trách nhiệm. Một trong những nỗ lực cụ thể là Chương trình hợp tác kỹ thuật về công nghệ có trách nhiệm, do Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) đơn vị thành viên của VDCA phối hợp thực hiện.
Theo ông Nguyễn Minh Hồng, những nỗ lực này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn hoàn thiện mạnh mẽ hệ thống pháp luật về công nghệ số. Cuối năm 2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, khẳng định công nghệ là ưu tiên chiến lược của đất nước.
Đáng chú ý, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, hàng loạt luật quan trọng tạo khung pháp lý cho nền kinh tế số đã được ban hành hoặc sửa đổi, như Luật Giao dịch điện tử, Luật Viễn thông, Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Thương mại điện tử, Luật Quảng cáo sửa đổi, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Công nghiệp công nghệ số, và mới đây là Luật Trí tuệ nhân tạo.
Hội thảo lần này, theo Chủ tịch VDCA, là dịp để nhìn lại những bước tiến chính sách quan trọng đó, đồng thời tiếp tục thảo luận, đóng góp ý kiến cho quá trình hoàn thiện chính sách quốc gia về công nghệ số và AI, hướng tới xây dựng một môi trường số an toàn, bao trùm, nhân văn và thúc đẩy đổi mới sáng tạo bền vững.
Tạo lập khuôn khổ quản trị số: Thành tựu, thách thức và những khoảng trống cần lấp đầy
![]() |
| Ông Nguyễn Quang Đồng, Thúc đẩy công nghệ số bao trùm và trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm tại Việt Nam chia sẻ tại sự kiện. |
Trình bày tham luận “Một số thập kỷ tạo lập khuôn khổ quản trị số tại Việt Nam - Điểm lại những kết quả chính và chặng đường phía trước”, ông Nguyễn Quang Đồng, Viên trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) cho rằng, công nghệ số đã đi một chặng đường rất dài và đang thay đổi căn bản đời sống xã hội. “Ngày nay, con người ra đường không cần mang tiền mặt hay giấy tờ, chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh”, ông nhận định.
Theo ông Nguyễn Quang Đồng, Việt Nam đã trải qua hơn một thập kỷ số hóa, với chương trình chuyển đổi số quốc gia tập trung vào ba trụ cột: kinh tế số, xã hội số và chính phủ số. Nền kinh tế số Việt Nam hiện có quy mô lớn thứ ba trong ASEAN, cho thấy những kết quả đáng ghi nhận của quá trình chuyển đổi này.
Tiếp cận hệ sinh thái số quốc gia của Việt Nam được xây dựng trên sáu thành tố chính, bao gồm: chính sách, chiến lược và quy định pháp luật; các tổ chức thiết kế quốc gia; nguồn lực quốc gia; cơ chế tài chính quốc gia; các chương trình khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; cùng với cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng dữ liệu và trung tâm dữ liệu.
Khung pháp lý cho các vấn đề mới của thời đại số cũng đang dần được hoàn thiện. Việt Nam đã ban hành Luật Dữ liệu và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Công nghiệp công nghệ số điều chỉnh tài sản số, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Thương mại điện tử, Luật Viễn thông sửa đổi, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi và Luật Quảng cáo sửa đổi để cập nhật vai trò của các chủ thể mới trong môi trường số.
Theo ông Nguyễn Quang Đồng, Việt Nam đang tìm cách định vị mình giữa các mô hình quản trị số trên thế giới, từ mô hình quản lý chặt chẽ của EU, mô hình Trung Quốc, các mô hình APAC đến mô hình thị trường tự điều tiết. Ba yếu tố chi phối và định hình mô hình quản trị số của Việt Nam là chủ quyền và an ninh quốc gia, quyền con người, và đổi mới sáng tạo cùng các mô hình kinh doanh mới, trong bối cảnh thế giới đầy biến động.
Một nội dung được ông Nguyễn Quang Đồng đặc biệt nhấn mạnh là quyền con người trong thời đại số. Hiện nay, có hơn 30 quyền con người gắn với môi trường số, trong đó nhiều quyền đang nổi lên rõ nét như quyền riêng tư, quyền giáo dục, quyền bình đẳng, quyền không bị phân biệt đối xử, quyền lao động và lập hội. Tuy nhiên, đi kèm với đó là những thách thức lớn về an toàn, riêng tư và nhân phẩm.
Dẫn số liệu khảo sát, ông cho biết ít nhất 70% người Việt từng gặp lừa đảo trên mạng ít nhất một lần mỗi tháng, và 29% số người được hỏi cho biết đã từng bị mất tiền. Không gian mạng vì thế không còn là không gian vô danh, mà ngày càng được quản lý chặt chẽ hơn thông qua các biện pháp xác thực tài khoản mạng xã hội, xác thực giao dịch thương mại điện tử và tài chính, định danh công dân, doanh nghiệp và tài sản.
Dù vậy, ông Nguyễn Quang Đồng cũng chỉ ra những khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện, bao gồm tiêu chuẩn kỹ thuật cho các ngành chuyên biệt, sự hài hòa quy định trong khu vực ASEAN và APAC, cũng như năng lực thực thi pháp luật, từ điều tra cạnh tranh, giám sát tuân thủ đến hợp tác đa quốc gia trong quản trị số.
Luật trí tuệ nhân tạo: Hài hòa giữa thúc đẩy phát triển và kiểm soát rủi ro
![]() |
| Ông Hồ Đức Thắng, Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia - Bộ Khoa học và Công nghệ. |
Từ góc độ xây dựng pháp luật, ông Hồ Đức Thắng, Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia cho biết, Việt Nam hiện là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo, cùng với châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Theo ông Hồ Đức Thắng, tốc độ phát triển của AI là “phi thường”. Chỉ trong hai tháng, ChatGPT đã đạt 100 triệu người dùng, khoảng 60% người dùng sử dụng AI hằng ngày, và hơn 80% doanh nghiệp đã ứng dụng AI ở các mức độ khác nhau. AI đã thâm nhập vào hầu hết các ngành, lĩnh vực, buộc con người phải “sống cùng AI”.
Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là những rủi ro nghiêm trọng, từ video deepfake, tin giả, mạo danh cho đến các tác động trực tiếp đến quyền và an toàn của con người. Do đó, mục tiêu của Luật AI là hài hòa giữa thúc đẩy phát triển và kiểm soát rủi ro, học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản và Hàn Quốc nhưng có cách tiếp cận phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Theo ông Hồ Đức Thắng, cách quản lý của Việt Nam được thiết kế “cao hơn Hàn Quốc nhưng nhẹ hơn châu Âu”, với luật đóng vai trò đặt ra các nguyên tắc chung. AI được xếp vào nhóm công nghệ được hưởng mức ưu đãi cao nhất, với các cơ chế khuyến khích, đầu tư của Nhà nước, hình thành quỹ phát triển AI, hỗ trợ nghiên cứu, thúc đẩy thị trường và sử dụng AI trong khu vực công để vừa dẫn dắt, vừa quản lý.
Bên cạnh khung pháp lý, Việt Nam cũng đang xây dựng khung đạo đức AI, phân biệt giữa quy phạm đạo đức và quy phạm pháp luật. Theo đó, các cơ quan nhà nước sẽ phải tuân thủ bắt buộc khung đạo đức AI, trong khi doanh nghiệp được khuyến nghị áp dụng. Điều này phản ánh nhận thức rằng AI không chỉ là vấn đề công nghệ hay kinh tế, mà còn là vấn đề đạo đức xã hội sâu sắc, khi AI ngày càng “giống con người” trong nhiều hoạt động, từ học tập, thi cử đến ra quyết định.
Hội thảo khép lại với kỳ vọng sẽ tiếp tục đóng góp những khuyến nghị thiết thực cho quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về công nghệ số và AI ở Việt Nam, hướng tới một môi trường số an toàn, bao trùm, nhân văn và đổi mới sáng tạo, phù hợp với định hướng phát triển bền vững và cam kết quốc tế của Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Thu Uyên





Bình luận