Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia là hệ thống định hướng tổng thể về cấu trúc, phân tầng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mô hình chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành, địa phương và các hệ thống thông tin của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Quy mô điều chỉnh kiến trúc dữ liệu toàn hệ thống chính trị
Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia đặt ra mục tiêu thống nhất kiến trúc dữ liệu áp dụng tại tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tối cao; các cơ quan của Quốc hội; các cơ quan Trung ương thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Việc thống nhất này nhằm tạo một chuẩn tham chiếu chung trên toàn quốc, bảo đảm các cơ sở dữ liệu quốc gia, ngành, địa phương và các hệ thống thông tin vận hành theo mô hình chuẩn, kết nối được với nhau, tránh phân mảnh, chồng chéo.
Khung mô tả tổng thể kiến trúc dữ liệu dựa trên phân lớp dữ liệu gốc, dữ liệu đặc tả, dữ liệu chủ, dữ liệu danh mục, dữ liệu giao dịch, dữ liệu tổng hợp, dữ liệu phân tích, dữ liệu mở. Từng lớp dữ liệu có vai trò riêng trong hệ thống dữ liệu quốc gia, bảo đảm dữ liệu được cấu trúc, phân tầng khoa học, có khả năng phục vụ đa mục tiêu, không bị trùng lặp, và có thể xác định được rõ nguồn gốc, trách nhiệm tạo lập – khai thác – duy trì.
Khung mô hình hóa các khối dữ liệu theo chức năng, nghiệp vụ cụ thể gồm: dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp; dữ liệu phục vụ hoạt động quản lý chuyên ngành; dữ liệu phục vụ công tác điều hành, xây dựng chính sách; dữ liệu phục vụ quản trị nguồn lực nội bộ; dữ liệu phục vụ an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; và dữ liệu về thể chế, chính sách. Đây là các nhóm nghiệp vụ đại diện cho toàn bộ phổ vận hành của hệ thống chính trị, cho phép tổ chức lại không gian dữ liệu quốc gia theo đúng logic chức năng – thay vì tổ chức rời rạc theo từng bài toán cục bộ trước đây.
Khung xác định rõ việc xây dựng nền tảng chia sẻ và điều phối dữ liệu quốc gia, kết nối dữ liệu giữa hệ thống cấp bộ, ngành, địa phương với Trung tâm dữ liệu quốc gia và luồng điều phối dữ liệu dùng chung quốc gia. Cách tiếp cận này thiết lập trật tự tích hợp dữ liệu từ trung ương đến địa phương, tạo một cơ chế chia sẻ có kiểm soát, có giám sát, có truy vết, bảo đảm mọi dữ liệu di chuyển trong hệ thống đều nằm trong khuôn khổ pháp lý, không tự phát, không phân tán.
Nguyên tắc vận hành – chia sẻ – bảo mật dữ liệu theo tiêu chuẩn pháp luật
Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia quy định nguyên tắc thu thập dữ liệu một lần duy nhất, nhằm hạn chế trùng lặp, giảm chi phí xử lý, nâng cao hiệu quả và độ tin cậy. Dữ liệu có một nguồn dữ liệu gốc duy nhất, được một chủ thể tạo lập và chịu trách nhiệm quản lý. Các tác nghiệp cập nhật, thay đổi dữ liệu chủ thuộc danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia phải hoàn thành bước cập nhật vào Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, để thông tin chứa bởi dữ liệu chủ đó có giá trị pháp lý trên toàn hệ thống.
Về lưu trữ, các cơ quan tổ chức chỉ lưu trữ dữ liệu ở mức tối thiểu cần thiết, tương ứng nhiệm vụ, chức năng được giao, nhằm bảo đảm tiết kiệm tài nguyên, tránh dư thừa, tránh nhân bản dữ liệu cùng loại ở nhiều nơi. Chất lượng dữ liệu phải được bảo đảm đúng – đầy đủ – sạch – cập nhật kịp thời, phục vụ phân tích, khai thác, điều hành, ra quyết định của Nhà nước.
Về chia sẻ dữ liệu, Khung yêu cầu minh bạch thông tin về nguồn gốc, nội dung, phạm vi sử dụng dữ liệu; chủ động chia sẻ dữ liệu phục vụ dịch vụ công, nhiệm vụ quản lý nhà nước, điều hành, ra quyết định; tối thiểu hóa các khâu trung gian kết nối để đảm bảo tốc độ truyền tải nhanh, chính xác, tiết kiệm hạ tầng, tăng hiệu quả đầu tư công nghệ.
Việc khai thác, sử dụng dữ liệu phải đúng mục đích phục vụ quản lý nhà nước, cải cách hành chính, phát triển kinh tế - xã hội. Cơ quan khai thác phải công khai phạm vi sử dụng và chịu trách nhiệm đối với dữ liệu sử dụng. Khi kết thúc sử dụng, dữ liệu phải được lưu trữ lịch sử hoặc hủy theo quy định pháp luật.
Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia là căn cứ để triển khai các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin có quản lý dữ liệu, bảo đảm tuân thủ luật pháp và chính sách của Đảng, Nhà nước. Yêu cầu về an toàn, bảo mật, phân quyền tuân thủ Luật An ninh mạng, Luật An toàn thông tin, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Dữ liệu và các văn bản pháp luật khác.
Khung sẽ được đánh giá, cập nhật định kỳ theo quy định về quản trị, quản lý dữ liệu.
![]() |
| Sơ đồ tổng quát khung kiến trúc dữ liệu quốc gia. |
Người sử dụng (người thụ hưởng) bao gồm người dân, cán bộ, công chức, viên chức, du khách; các tổ chức, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức khác; các cơ quan xã, phường;
Các kênh giao tiếp bao gồm phương thức giao tiếp tại các Trung tâm phục vụ hành chính công, Bộ phận một cửa và các kênh số như kiosk, điện thoại, tin nhắn, thư điện tử, ứng dụng trên điện thoại thông minh, ứng dụng trên máy tính để bàn (Desktop), ứng dụng web hoặc các thiết bị khác;
Các thành phần dữ liệu bao gồm: cơ sở dữ liệu (CSDL) tổng hợp quốc gia nằm ở trung tâm; các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu dùng chung và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin (HTTT) của các cơ quan là các hệ thống vệ tinh để cung cấp dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia;
Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu (tên tiếng Anh là National Data Orchestration Platform, viết tắt là NDOP) - tất cả hoạt động kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc đều phải thực hiện thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu để thực hiện việc giám sát, truy vết và đánh giá hiệu quả;
Các hệ thống thông tin quốc gia tiêu biểu phục vụ quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia bao gồm: hệ thống giám sát an toàn, an ninh mạng (SOC - Security Operation Center) của Trung tâm dữ liệu quốc gia (TTDLQG); hệ thống Quản trị dữ liệu Quốc gia; hệ thống Từ điển dữ liệu dùng chung; hệ thống Cổng dữ liệu Quốc gia; sàn dữ liệu của TTDLQG. Các hệ thống thông tin quốc gia tiêu biểu khác kết nối với Nền tảng Chia sẻ, điều phối dữ liệu như Cổng Dịch vụ công Quốc gia; Nền tảng VNeID/Nền tảng định danh và xác thực điện tử…;
Các cơ quan ở Trung ương kết nối với Nền tảng NDOP bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn Phòng Trung ương Đảng, cơ quan Trung ương thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Các cơ quan địa phương kết nối với Nền tảng NDOP bao gồm UBND và HĐND các tỉnh, thành phố; các cơ quan Đảng ở địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội; các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp khác cũng được kết nối vào Nền tảng NDOP;
Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài kết nối tới Nền tảng NDOP để trao đổi dữ liệu phục vụ thương mại, hợp tác quốc tế;
Hạ tầng truyền dẫn bao gồm hạ tầng mạng truyền dẫn Internet toàn cầu; hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng bảo đảm liên thông, đồng bộ, bí mật trong hoạt động của Đảng, Nhà nước và các cơ quan trong hệ thống chính trị;
Hạ tầng Trung tâm dữ liệu bao gồm Trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu của bộ, ngành, khối cơ quan; các trung tâm dữ liệu của tỉnh/thành phố; các trung tâm dữ liệu của doanh nghiệp;
Hạ tầng An toàn thông tin mạng, an ninh mạng bao gồm các hạ tầng và hệ thống bảo mật, kết nối với Trung tâm giám sát an toàn không gian mạng (SOC) của Trung tâm dữ liệu quốc gia và các SOC của các cơ quan trong hệ thống chính trị, bảo đảm an toàn cho toàn bộ hạ tầng công nghệ thông tin của quốc gia từ trung ương đến địa phương.
(Theo Báo Chính phủ)









Bình luận